0

Ngôi đình làng bằng đá ở cố đô Hoa Lư

Đình được xây dựng bằng đá xanh nguyên khối, mỗi bộ phận được đục đẽo tinh xảo bằng đôi tay tài hoa của những nghệ nhân là con em trong làng. Ngôi đình bằng đá độc đáo này không chỉ là nơi tổ chức các lễ lớn trong làng mà còn là nơi làm giỗ cụ tổ làng nghề đá.


Làng Xuân Vũ, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có từ năm 1730 thời vua Lê Cảnh Hưng. Đình làng Xuân Vũ cũng được xây dựng từ đó, nhưng trước kia vật liệu làm đình chủ yếu là gỗ lim, xây bằng vôi vữa và gạch nung.
Làng Xuân Vũ, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có từ năm 1730 thời vua Lê Cảnh Hưng. Đình làng Xuân Vũ cũng được xây dựng từ đó, nhưng trước kia vật liệu làm đình chủ yếu là gỗ lim, xây bằng vôi vữa và gạch nung.
Do thời tiết và chiến tranh tàn phá, ngôi đình làng cũ bị hư hỏng phải tháo dỡ hoàn toàn. Một thời gian dài, làng Xuân Vũ không có đình, nơi ngôi đình ngự trị trước kia chỉ còn lại vết tích. Trước những nhu cầu thiết yếu, người dân trong làng đã quyết định phục dựng, xây dựng lại một ngôi đình mới bằng đá, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc của ngôi đình xưa cũ.
Do thời tiết và chiến tranh tàn phá, ngôi đình làng cũ bị hư hỏng phải tháo dỡ hoàn toàn. Một thời gian dài, làng Xuân Vũ không có đình, nơi ngôi đình ngự trị trước kia chỉ còn lại vết tích. Trước những nhu cầu thiết yếu, người dân trong làng đã quyết định phục dựng, xây dựng lại một ngôi đình mới bằng đá, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc của ngôi đình xưa cũ.

Đình phục dựng lại vẫn có Tiền đường, Hậu cung và 2 bên tả hữu thờ gia tiên. Tất cả các chi tiết chính xây đình đều bằng đá xanh nguyên khối, do chính các nghệ nhân là con em trong làng chế tác và tự nguyện đóng góp xây dựng.
Đình phục dựng lại vẫn có Tiền đường, Hậu cung và 2 bên tả hữu thờ gia tiên. Tất cả các chi tiết chính xây đình đều bằng đá xanh nguyên khối, do chính các nghệ nhân là con em trong làng chế tác và tự nguyện đóng góp xây dựng.

Tiền đường của đình gồm có 3 gian. Bên trong có 12 cột cái và 12 cột quân bằng đá được trạm khắc tinh xảo, kết nối với nhau rất chắc chắn và vững trãi. Các cột cái được trạm khắc rồng, các cột con được trạm khắc cỏ cây hoa lá, chim muông, đặc biệt là 4 cây đại diện cho 4 mùa: Xuân hạ thu đông với Tùng, Trúc, Cúc, Mai.
Tiền đường của đình gồm có 3 gian. Bên trong có 12 cột cái và 12 cột quân bằng đá được trạm khắc tinh xảo, kết nối với nhau rất chắc chắn và vững trãi. Các cột cái được trạm khắc rồng, các cột con được trạm khắc cỏ cây hoa lá, chim muông, đặc biệt là 4 cây đại diện cho 4 mùa: Xuân hạ thu đông với Tùng, Trúc, Cúc, Mai.
Nhiều cột đá tại Tiền đường được dựng lên trên những chân cột của ngôi đình cũ. Ông Phạm Ngọc Sỹ (70 tuổi) thủ từ trông coi ngôi đình cho hay, khi đình cũ phải phá bỏ đi, nhiều chân cột vẫn được giữ lại, trước kia trên những chân cột này là cột gỗ lim.
Nhiều cột đá tại Tiền đường được dựng lên trên những chân cột của ngôi đình cũ. Ông Phạm Ngọc Sỹ (70 tuổi) thủ từ trông coi ngôi đình cho hay, khi đình cũ phải phá bỏ đi, nhiều chân cột vẫn được giữ lại, trước kia trên những chân cột này là cột gỗ lim.

Một cột con được khắc mây, hoa cúc tượng trưng cho mùa thu. Những cây cột này đều được người dân trong làng cúng tiến. Ngôi đình đá được dựng lên với mong muốn, tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như lưu giữ lại được làng nghề truyền thống hàng trăm năm nay của làng cho thế hệ mai sau.
Một cột con được khắc mây, hoa cúc tượng trưng cho mùa thu. Những cây cột này đều được người dân trong làng cúng tiến. Ngôi đình đá được dựng lên với mong muốn, tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như lưu giữ lại được làng nghề truyền thống hàng trăm năm nay của làng cho thế hệ mai sau.
Mỗi cây cột đá trong Tiền đình cao hơn 4m, to bằng cả người ôm. Những cột đá này được làm bằng đá xanh nguyên khối, khai thác từ các dãy núi trong làng. Ông Sỹ cho biết thêm, để xây dựng xong ngôi đền hoàn chỉnh phải sử dụng hàng trăm khối đá.
Mỗi cây cột đá trong Tiền đình cao hơn 4m, to bằng cả người ôm. Những cột đá này được làm bằng đá xanh nguyên khối, khai thác từ các dãy núi trong làng. Ông Sỹ cho biết thêm, để xây dựng xong ngôi đền hoàn chỉnh phải sử dụng hàng trăm khối đá.

Các cột, kèo, vì được gắn kết với nhau bằng các mộng. Ngôi đình không chỉ là nơi tổ chức các lễ hội lớn trong làng như: Kỳ Phú (12/2 âm lịch), giỗ Khổng Tử và Trần Hưng Đạo (20/8), Tống cựu nghinh tân (30/12 âm lịch) còn là nơi tổ chức lễ giỗ cụ tổ làng nghề đá Hoàng Sùng, đây là lễ lớn nhất trong năm diễn ra vào ngày 16/8 âm lịch hàng năm.
Các cột, kèo, vì được gắn kết với nhau bằng các mộng. Ngôi đình không chỉ là nơi tổ chức các lễ hội lớn trong làng như: Kỳ Phú (12/2 âm lịch), giỗ Khổng Tử và Trần Hưng Đạo (20/8), Tống cựu nghinh tân (30/12 âm lịch) còn là nơi tổ chức lễ giỗ cụ tổ làng nghề đá Hoàng Sùng, đây là lễ lớn nhất trong năm diễn ra vào ngày 16/8 âm lịch hàng năm.

Tại mỗi vì các mối nối ghép với nhau bằng các mộng được che phủ bởi những họa tiết rồng bay - phượng múa, long ly quy phượng hay tùng trúc cúc mai...
Tại mỗi "vì" các mối nối ghép với nhau bằng các "mộng" được che phủ bởi những họa tiết "rồng bay - phượng múa", "long ly quy phượng" hay "tùng trúc cúc mai"...

Ông Sỹ cho biết, tại Hậu cung của ngôi đình hiện vẫn còn 4 cột đá cổ có từ hàng trăm năm trước. Những cột đá này được chạm khắc tinh xảo, được làm bằng phương pháp thủ công nhưng những nét trạm rất nổi, vân rất sâu dù cho thời gian mưa nắng cũng không bào mòn được. Đây cũng chính là những di sản mà người xưa để lại cho con cháu làng đá mỹ nghệ Ninh Vân.
Ông Sỹ cho biết, tại Hậu cung của ngôi đình hiện vẫn còn 4 cột đá cổ có từ hàng trăm năm trước. Những cột đá này được chạm khắc tinh xảo, được làm bằng phương pháp thủ công nhưng những nét trạm rất nổi, vân rất sâu dù cho thời gian mưa nắng cũng không bào mòn được. Đây cũng chính là những di sản mà người xưa để lại cho con cháu làng đá mỹ nghệ Ninh Vân.
Một họa tiết đầu rồng trên cột đá trong Tiền đường. Để xây dựng ngôi đình đá này, tổng số tiền phải mất nhiều tỷ đồng, chưa kể công sức của người dân trong làng bỏ ra.
Một họa tiết đầu rồng trên cột đá trong Tiền đường. Để xây dựng ngôi đình đá này, tổng số tiền phải mất nhiều tỷ đồng, chưa kể công sức của người dân trong làng bỏ ra.
Một góc trong ngôi đình đá độc đáo bậc nhất cố đô Hoa Lư (Ninh Bình).
Một góc trong ngôi đình đá độc đáo bậc nhất cố đô Hoa Lư (Ninh Bình).
Bức tường của ngôi đình được xây bằng đá. Từ nhiều năm nay, đình được Ban quản lý bảo tồn di tích lịch sử trong làng bảo quản. Ngày thường đình đóng cửa, đến ngày hội lại được mở, tổ chức các lễ hội truyền thống trong làng thu hút nhiều người đến tham dự.
Bức tường của ngôi đình được xây bằng đá. Từ nhiều năm nay, đình được Ban quản lý bảo tồn di tích lịch sử trong làng bảo quản. Ngày thường đình đóng cửa, đến ngày hội lại được mở, tổ chức các lễ hội truyền thống trong làng thu hút nhiều người đến tham dự.

Các hoành phi câu đối trên cột, trong đình cũng được khắc bằng đá tạo nên sự trường tồn vĩnh cửu với thời gian.
Các hoành phi câu đối trên cột, trong đình cũng được khắc bằng đá tạo nên sự trường tồn vĩnh cửu với thời gian.
Trước ngôi đền đá độc đáo làng Xuân Vũ có cây thị hàng trăm năm tuổi. Không gian quanh đình vẫn còn lưu giữ nhiều nét cổ kính của làng quê Bắc Bộ cây đa giếng nước sân đình.
Trước ngôi đền đá độc đáo làng Xuân Vũ có cây thị hàng trăm năm tuổi. Không gian quanh đình vẫn còn lưu giữ nhiều nét cổ kính của làng quê Bắc Bộ "cây đa giếng nước sân đình".

Không chỉ nổi tiếng với đình làng bằng đá, làng đá Ninh Vân (trong đó có làng Xuân Vũ) hiện đang được nhiều người biết đến với cổng làng to nhất tỉnh, được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối.
Không chỉ nổi tiếng với đình làng bằng đá, làng đá Ninh Vân (trong đó có làng Xuân Vũ) hiện đang được nhiều người biết đến với cổng làng to nhất tỉnh, được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối.

0

“Dưới cát là nước”: Sức hấp dẫn từ sáng tạo thử nghiệm

Posted by Phong Thủy Chung Cư on 19:55 in , , ,

Từ ngày 27-29/8, Nhà hát kịch nói Quân đội đã chính thức công diễn vở “Dưới cát là nước”.

Từ ngày 27-29/8, Nhà hát kịch nói Quân đội đã chính thức công diễn vở “Dưới cát là nước” (Kịch bản: Nhà văn Nguyễn Quang Vinh; Đạo diễn: NSND Lê Hùng). Đây là một trong những vở diễn đăng kí tham gia Liên hoan Quốc tế sân khấu thử nghiệm lần thứ III - 2016.
Theo Cố vấn văn học kịch, PGS- TS Nguyễn Thị Minh Thái: “Với 3 tiêu chí của một tác phẩm sân khấu thử nghiệm, ở 3 phương diện: Thử nghiệm về kịch bản, thử nghiệm về biểu diễn, thử nghiệm về đạo diễn. Vở diễn này về cơ bản đã đạt được tính chất của thử nghiệm”.
Một kịch bản đặc biệt, nhiều yếu tố thử nghiệm
Tác giả kịch bản - Nhà văn Nguyễn Quang Vinh tâm sự : «Tôi là người Quảng Bình, hiểu quá rõ mảnh đất và con người nơi đây. Quảng Bình là nơi gánh chịu sự khốc liệt, mất mát nhất của chiến tranh. Nhưng người Quảng Bình cũng là những người có lòng vị tha, tình người.”
Đó chính là ý tưởng khởi nguồn của kịch bản “Dưới cát là nước”. Ông Lủi, bà Nậy và cô Gió quăng quật trong cát, trên cát, giữa cát 30 năm... 30 năm thù hằn, tìm nhau, kiếm nhau, đuổi nhau... Cuối cùng thì bới cát nóng tìm nước, chôn thù hằn tìm lấy tình yêu thương. Bà mẹ yêu đứa con. Đứa con vì cuộc sống đang tiếp diễn của mình yêu người đàn ông.
Người đàn ông quay về vì tình yêu với mảnh đất. Tình thương yêu đã hóa giải hận thù suốt 30 năm tìm nhau, đuổi nhau trên cát nóng. Chỉ từ 3 nhân vật, sân khấu ngập tràn người, có cả hồn cát, có cả dàn nhạc dân tộc, hư hư thực thực rất hiệu quả, gây được những ấn tượng đặc biệt với khán giả.
Sau buổi tổng duyệt, Nhà văn Nguyễn Quang Vinh hân hoan chia sẻ: “Lần thứ 3 tôi đã thành công những dòng viết kịch bản về cát trong ý định thực hiện 10 vở diễn về Cát”.
Nhà phê bình sân khấu Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét: “Nguyễn Quang Vinh đã đi từ vở diễn “Âm binh, đến Cát trắng như gạo và bây giờ là Dưới cát là nước là những bước đi ấn tượng, những kịch bản đạt chất lượng cao, để cùng ê kip cho ra 3 tác phầm về cát quá hay cho sân khấu nước nhà”.
Theo Giám đốc - Đại tá - NSƯT Nguyễn Ngọc Thư: "Khi đọc kịch bản, chúng tôi đã thấy ngay yếu tố thử nghiệm trong tác phẩm. Sau đó, Nhà hát đã tiến hành chỉnh sửa kịch bản để phù hợp hơn. Đây là một kịch bản đặc biệt cần tập hợp nhiều thành phần sáng tạo".
Trong kịch bản, chất tự sự, trữ tình không nằm trong xung đột mà nằm trong lời thoại, diễn biến tâm lý. Điều này tạo cảm hứng dàn dựng cho đạo diễn và êkip sáng tạo.
Hấp dẫn từ những thử nghiệm sáng tạo
Sân khấu được bố trí cách điệu với những triền cát miên man trắng xóa, với những hồn cát chở che, ấp iu, đồng điệu với mỗi nhân vật, mỗi con người trong mỗi cảnh huống. Và âm nhạc vút lên ở ba tầng sân khấu, như là lòng cát, như là cây lá, như là nắng gió, biển trời... cùng hòa khúc yêu thương với mỗi nhân vật- đầy day dứt, ám ảnh, dằng xé.
Nhạc sĩ - NSƯT Huỳnh Tú đã tính toán kỹ lưỡng từng chi tiết nhạc: khi là điệu hò Quảng Bình da diết, khi là lời ru “Lông chông”- ca khúc vở diễn, khi là dàn nhạc sống như dỗ dành, như an ủi cho mỗi phận đời trong cát. Âm nhạc đã thực sự sống cùng vở diễn, diễn tả được những khoảng lặng về cảm xúc. Sự kết hợp giữa âm nhạc truyền thống với sân khấu kịch rất hiệu quả, bổ trợ cho cảm xúc của diễn viên, bật lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Về mặt dàn dựng, đạo diễn- NSND Lê Hùng đã thành công khi kết hợp giữa thủ pháp Sân khấu truyền thống (dàn đế chèo), sân khấu gián cách Becton Brếch, và sân khấu Staninapxki. Mỗi nhân vật tự sự với chính mình, tự sự với cát, với lông chông, tương tác với dàn nhạc, với người hát, và đối thoại với nhau.
Mỗi diễn viên là một màu sắc riêng, một lối diễn riêng “lên” đúng màu, đúng chất từng nhân vật. Sự ngơ ngác, hồn nhiên đến hoang dại như một bản năng sống mãnh liệt của Gió được diễn viên trẻ Băng Tình thể hiện ngọt vai. Sự từng trải và ám ảnh, run rẩy, đầy sám hối của Lủi trong nét diễn tưng tửng mà tự nhiên của diễn viên Hồ Uy Linh.
Đặc biệt, nữ diễn viên chính, NSƯT Ngọc Thư trọn vẹn hóa thân vào vai bà Nậy. Là người giàu kinh nghiệm sân khấu, chị đã đẩy được cảm xúc, tạo ra những khoảnh khắc diễn xuất thần. Khán giả như bị “bà Nậy” thôi miên, chìm sâu trong điên dại, khi sống lại cảm giác đau đớn trước cái chết oan của người chồng.
Rồi cũng chính chị đánh thức khán giả, làm khán giả tỉnh lại khi tự nhủ với con gái “Mẹ điên mất!”. Bản lĩnh sân khấu đã giúp chị biến tấu linh hoạt lối diễn Staninapxki và lối diễn Becton Brếch khi thể hiện hình tượng người đàn bà Việt Nam với nội tâm giằng xé mà tỉnh táo, giúp chị tách mình ra khỏi những ám ảnh của nhân vật, trở về đời thật, thay đổi tiết tấu kịch…
Sân khấu lặng đi và ngân lên giai điệu yêu thương khi kết vở, bà Nậy ôm chầm lấy con gái và con rể, người đã từng là kẻ thù của gia đình bà. Hòa cảm với bà Nậy, những hồn cát trút bỏ mặt nạ, như dòng nước mát lành vẫn âm thầm chảy dưới sâu trong lòng cát. Đó là tình mẹ con yêu thương vời vợi, là tình người thăm thẳm bao dung. Như tình đất, tình người Quảng Bình, như tình đất, tình người Việt Nam!...
Với một sân khấu đẹp và xúc cảm, với những thử nghiệm mới mẻ sáng tạo, vở diễn “Dưới cát là nước” hứa hẹn sẽ ghi được những dấu ấn riêng của Nhà hát Kịch nói Quân đội với bạn nghề, với khán giả trong và ngoài quân đội, và nhất là trong Liên hoan Quốc tế sân khấu thử nghiệm lần thứ III - 2016 tại Hà Nội.

0

Vở diễn "Biệt đội Báo đen" - Bản tráng ca người lính

Lâu lâu mới lại có một vở chính kịch xem không mệt, không chán, mà còn thích thú, không chỉ vì nhu cầu giải trí, những người làm nên vở diễn nói thay người xem những trăn trở bức xúc thời cuộc, nói những gì người xem đang muốn nói, đang muốn gửi gắm.

Biệt đội Báo đen - Một vở diễn mới mang đề tài Người lính, gồm hai phần, thời kỳ chiến tranh ác liệt và thời kỳ hậu chiến sau 20 năm non sông thu về một mối. Vẫn những con người ấy hiện hữu trong cuộc đấu tranh mới một mất một còn với ý nghĩa to lớn hơn, như người đội trưởng “Biệt đội Báo đen” Hai Lục bình nói: “… Mất đất là mất tất cả, mất cả cái chung và cái riêng”.
Cảm xúc thật khó tả, suốt hai tiếng đồng hồ tâm trí tôi như bị hút chặt vào bản “Tráng ca Người lính” của một tác giả không cần nêu danh cũng biết anh là ai, bởi từ ngữ khí, văn phong, tính cách đến các chi tiết hiện thực cuộc sống nhiều năm vật lộn với kẻ thù không lẫn vào đâu được, chỉ có thể là tác giả Chu Lai…
Đêm hè oi ả, ngoài kia Cúp bóng đá châu Âu đang sôi động cuốn hút, giữ chân nhau trong rạp hát với vở diễn đầy tiếng súng đạn, khói lửa và những người lính cận kề cái chết trong gang tấc đâu phải dễ dàng.
Ấy vậy mà sau từng lớp kịch những tràng vỗ tay lại vang lên, nếu vỗ tay động viên, lịch sự không thể nhiều đến như vậy. Ngoài những hồi tưởng xa xưa thời gian khổ chiến tranh, không trực tiếp bản thân mình, thì cũng gián tiếp cha anh đồng đội hay con em hoặc bạn bè mình.
Vở diễn còn có sức hấp dẫn chính là sự bóc tách chân thực cả cái tốt lẫn cái chưa tốt trong từng người lính trận, bóc trần cả những cái xấu xa, tồi tệ của những con người không đủ tư cách nhân danh người lính, đã làm ô nhục tinh thần quả cảm của đồng đội và tổn thất của nhân dân.
Anh hùng có, phản bội có, tác giả không hề giấu diếm, tô hồng, mổ xẻ đến cùng, đó là những điều cần thiết cho những ai đã sống qua thời chinh chiến ác liệt đó và cho cả thế hệ trẻ hôm nay hiểu đúng cái giá mà cha ông đã phải trả cho sự hy sinh để giữ lấy đất nước này.
Cái giỏi của Chu Lai ngay trong phần một, với bối cảnh vùng giáp ranh, nơi bom đạn cái chết rập rình ngày đêm hơn 30 người con Biệt đội Báo đen, đã miêu tả đúng bản chất, cá tính từng con người trong hoàn cảnh cụ thể đã chạm được vào tâm thức người xem khó tính và đang trăn trở bức xúc với sự xuống cấp, tha hóa đạo đức của một bộ phận không nhỏ ta thường thấy. Ở phần hai, tôi đã bị tắc nghẹn nhiều lần qua những câu nói của nhân vật, ngôn ngữ chính luận được sự truyền tải đầy sức thuyết phục của xử lý đạo diễn và tài hoa diễn xuất của nghệ sĩ.
NSƯT Xuân Bắc đã thành công trong nhiều vai diễn chính, hài kịch, trong vai trò MC. Lần này anh là ông Sáu Thành rất đáng yêu, đáng khâm phục nhân cách “Thẳng như mũi tên” chân thành và đằm thắm như củ khoai hạt lúa, lấp lánh phía sau một Chu Lai lính Đặc công ngót nửa thế kỷ trước.
Nghệ sĩ trẻ Khuất Quỳnh Hoa khá đắt “sô” phim truyền hình mấy năm nay lại vừa xuất sắc thể hiện thành công Ophelia trong vở bi kịch kinh điển “Hăm lét mới đây, đảm nhận vai Út Vân. Đây là một cô gái 17 tuổi sống trong đơn vị giữa đám “Lính trận” Như Hoa cúc xanh giữa đầm lầy, rồi được đi học chuẩn bị cho thời hậu chiến, hai mươi năm sau trở thành một bà cán bộ tầm cỡ Trung ương, cuối cùng vẫn trở về với Sáu Thành chất phác mấy chục năm trước cô đã nặng lòng yêu thương, kính phục.
Nhân vật Hai Lục bình đội trưởng, bạn thân của Sáu Thành, do nghệ sĩ Tô Dũng đảm nhận là chỉ huy tốt bụng nhưng quá tự tin vào năng lực của mình, có phần máy móc, bảo thủ, thiếu lắng nghe cấp dưới. Sau thất bại trận mạc vì sự cố chấp của mình, anh hối hận thì đã hơi muộn, đồng đội thương vong và hi sinh, còn bản thân anh phải giã từ đời lính chiến bởi vết thương qua nặng, buộc phải chuyến về hậu phương điều trị.
Nhân vật Bẩy Tân lên thay đội trưởng Hai Lục Bình do nghệ sĩ Dũng Nam đảm nhận là một nhân vật xấu, cá nhân, hám danh ích kỷ đứng trong hàng ngũ những người con ưu tú mang danh Báo Đen, như Sáu Thành đã phê phán trực diện: Anh không đủ tư cách nhân danh người lính, anh chỉ là “ Con Sâu rừng” để rồi 20 năm sau con sâu ấy nhẩy lên đến chức phó chủ tịch tỉnh, con sâu rừng trứng nào tật ấy, hiện nguyên hình một kẻ cơ hội nịnh bợ cấp trên trù dập cấp dưới.
Cuộc đấu tranh không khoan nhượng của những người đã để lại một phần máu sương, cơ thể ngoài chiến trận. Công lý đã chiến thắng, Bẩy Tân bị lột mặt nạ bởi những người con ưu tú năm xưa cùng chiến hào, dẫu còn nhiều gian nan phải vượt qua…
Hiếm có vở diễn nào nhiều nghệ sĩ chiếm được cảm tình của khán giả như vở này, nhiều vai xuất sắc ấn tượng và hầu hết tròn vai.
Vở diễn hay đến như vậy không thể phủ nhận công sức đầu tư của đạo diễn NSND Anh Tú chắt chiu từng chi tiết phả hồn vào từng vai diễn mà cuộc chiến đã đi qua nhưng các em chưa kịp ra đời.
Sáng tạo của đạo diễn không biết tác giả có vừa ý không, riêng tôi là bạn của Chu Lai và hơn 20 năm sống cùng Anh Tú ở Nhà hát Tuổi trẻ, tôi nhìn thấy sự ăn ý nhất định của nhà văn “Lính trận” với đạo diễn tài hoa đang ở độ chín, chưa qua đời lính mà hiểu người lính rất nhiều. Tôi muốn chúc Anh Tú tiếp tục thăng hoa trên con đường đạo diễn.
“Bài ca không quên” bản nhạc làm nền xuyên xuốt cùng những khúc nhạc không lời hoặc có lời Anh Tú xử lý trong vở diễn thật ngọt ngào, xúc động. Hoạ sĩ NSƯT Lê Sơn đã cho một thiết kế mỹ thuật khá ấn tượng với năm khối hình như những bàn tay nâng niu cuộc sống đáng trân trọng di chuyển biến hình thay đối liên tục chứa nhiều tầng ý nghĩa, ánh sáng càng tôn thêm ý tưởng đạo diễn và bối cảnh.
Tôi không muốn khen một tý chê một tý cho hợp lẽ, chỉ muốn cái gì đang thừa thì Đạo diễn hãy tiết chế, hoặc tước bớt đi cho vở diễn chặt chẽ, cô đọng hơn.
Chúc mừng thành công mới của nhà hát Kịch Việt Nam, đang trên đường lấy lại phong độ “Anh Cả Đỏ” của làng kịch nói chúng ta.
Một số hình ảnh của vở kịch


0

Đà Nẵng tuyển sinh tài năng nhạc công, diễn viên tuồng trẻ

Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh (Đà Nẵng) đang sơ tuyển tài năng nhạc công, diễn viên trẻ trong độ tuổi từ 14 - 16 tuổi để đào tạo bài bản theo Đề án đào tạo diễn viên, nhạc công nghệ thuật tuồng giai đoạn 2016-2020.

Vòng sơ tuyển sẽ kéo dài đến hết ngày 21/6 và vòng chung tuyển theo kế hoạch sẽ diễn ra vào ngày 25/6 tới tại Nhà hát Tuồng Nguyễn Hiển Dĩnh.
Đà Nẵng tuyển sinh đào tạo tài năng nhạc công, diễn viên từ 14 - 16 tuổi (ảnh minh họa)
Đà Nẵng tuyển sinh đào tạo tài năng nhạc công, diễn viên từ 14 - 16 tuổi (ảnh minh họa)
Các thí sinh trúng tuyển sẽ được tài trợ toàn bộ kinh phí đào tạo (bao gồm học phí, chi phí sinh hoạt ăn, ở) tại Trường Sân khấu - Điện ảnh Hà Nội từ 2016 - 2020. Trường hợp học viên sau khi học xong không trở lại Đà Nẵng hoặc bỏ việc sẽ được yêu cầu hoàn trả toàn bộ kinh phí đã được đầu tư trong suốt quá trình học.
Được biết, Đề án đào tạo diễn viên, nhạc công nghệ thuật tuồng giai đoạn 2016-2020 triển khai thực hiện theo quyết định của Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch, nhằm tăng cường đội ngũ kế cận, phát huy giá trị nghệ thuật tuồng truyền thống.


0

Trấn Thành có thể bị xử phạt vì “bôi bẩn” vở cải lương “Tô Ánh Nguyệt”

Ông Võ Trọng Nam, Phó Giám đốc Sở Văn hóa, Thể thao TP HCM cho biết, hiện Sở đang xem xét hình thức xử phạt đối với diễn viên, MC Trấn Thành về vụ việc “bôi bẩn” vở cải lương kinh điển của soạn giả Trần Hữu Trang, “Tô Ánh Nguyệt” gây bức xúc dư luận.

Trao đổi với phóng viên Dân trí, ông Lê Minh Tuấn - Trưởng phòng Quản lý biểu diễn và băng đĩa (Cục Nghệ thuật Biểu diễn) cho biết: “Cục Nghệ thuật Biểu diễn đã đề nghị Sở Văn hóa- Thể thao TP HCM xử lý vụ việc diễn viên, MC Trấn Thành làm biến dạng vở cải lương “Tô Ánh Nguyệt gây bức xúc dư luận theo đúng quy định của pháp luật.”
Trấn Thành đang bị xem xét xử lý vì biến tấu sống sượng vở cải lương Tô Ánh Nguyệt.
Trấn Thành đang bị xem xét xử lý vì biến tấu sống sượng vở cải lương "Tô Ánh Nguyệt".
Về phía Sở Văn hóa- Thể thao TP HCM, ông Võ Trọng Nam- Phó Giám đốc Sở cho biết Sở đã có buổi làm việc riêng với diễn viên Trấn Thành, nghệ sĩ Ngọc Giàu và Anh Đức. Tại buổi làm việc, Trấn Thành đã giải trình và nhận lỗi về việc biến tấu vở cải lương “Tô Ánh Nguyệt” khiến dư luận phản ứng.
“Hiện tại, Sở đang tập hợp biên bản và chờ thanh tra báo cáo lại toàn bộ nội dung buổi làm việc với MC, diễn viên Trấn Thành để có thể đưa ra hình thức xử lý hợp lý”, ông Võ Trọng Nam trả lời phóng viên Dân trí.
Trước đó, MC, diễn viên Trấn Thành, Anh Đức và nghệ sĩ Ngọc Giàu bị cho là đã làm biến dạng tan nát vở cải lương kinh điển của soạn giả Trần Hữu Trang, “Tô Ánh Nguyệt” với trích đoạn hài pha cải lương sống sượng, thô tục. Nhân vật Tô Ánh Nguyệt là một phụ nữ hiền dịu, bao dung, gia giáo, cả đời hy sinh cho gia đình đã bị Trấn Thành biến thành một phụ nữ chua ngoa, vô học và hung tợn...

Nhân vật Tô Ánh Nguyệt là một phụ nữ hiền dịu, bao dung, gia giáo, cả đời hy sinh cho gia đình đã bị Trấn Thành biến thành một phụ nữ chua ngoa, vô học và hung tợn.
Nhân vật Tô Ánh Nguyệt là một phụ nữ hiền dịu, bao dung, gia giáo, cả đời hy sinh cho gia đình đã bị Trấn Thành biến thành một phụ nữ chua ngoa, vô học và hung tợn.
Clip này ghi lại khi Trấn Thành cùng hai nghệ sĩ trên biểu diễn trong một chương trình tại hải ngoại sau khi xuất hiện trên mạng đã khiến nhiều nghệ sĩ và công chúng phẫn nộ. “Trích đoạn “Tô Ánh Nguyệt” này quá dung tục, bậy bạ về mặt thẩm mỹ và ngôn từ. Nó cũng làm sai lệch bản sắc dân tộc có ở loại hình nghệ thuật cải lương, làm khán giả trẻ hiểu sai nghệ thuật cải lương, tiếp nhận sai các giá trị ở cải lương kinh điển”, ông bầu Huỳnh Anh Tuấn của Kịch IDECAF bức xúc. Nghệ sĩ Kim Tử Long cũng cho rằng khi xem vở diễn biến tấu này khán giả Việt trẻ tuổi ở nước ngoài sẽ không hiểu đúng về cải lương...
Trước hiệu ứng trái chiều từ dư luận, MC, diễn viên Trấn Thành đã lên tiếng xin lỗi. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng, hành động xin lỗi thôi chưa đủ, với việc “chế” bôi bác vở cải lương kinh điển, vi phạm bản quyền như thế này Trấn Thành cần nhận được hình thức xử lý cứng rắn hơn.

0

Không có nơi trưng bày, bảo vật quốc gia phải nằm ở hành lang

Là một trong 3 hiện vật quý của Thanh Hóa được Chính phủ công nhận là bảo vật quốc gia vào năm 2013, nhưng do không có chỗ trưng bày nên vạc đồng Cẩm Thủy đang được để ở góc hành lang của Bảo tàng Thanh Hóa.

Vạc Đồng Cẩm Thủy cùng với Kiếm ngắn Núi Nưa và Trống Đồng Cẩm Giang 1 (3 hiện vật của Thanh Hóa) được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận là bảo vật quốc gia đợt 2 vào cuối năm 2013 cùng với 37 hiện vật khác trong cả nước.
Không có chỗ trưng bày, chiếc vạc đồng Cẩm Thủy- bảo vật quốc gia phải nằm ở hành lang
Không có chỗ trưng bày, chiếc vạc đồng Cẩm Thủy- bảo vật quốc gia phải nằm ở hành lang
Là một trong những hiện vật được cho là hiện vật gốc độc bản, mang tính địa phương rõ rệt và được đánh giá là vạc đồng nguyên vẹn lớn nhất Việt Nam cho đến nay. Các nhà nghiên cứu nhận định, vạc đồng Cẩm Thủy có giá trị đặc biệt gắn liền với lịch sử thời Lê Trung Hưng (thế kỷ 16-18), là minh chứng sinh động cho kỹ nghệ đúc đồng đạt đến trình độ hoàn hảo từ nhiều thế kỷ trước ở Việt Nam.
Hiện ở Việt Nam chưa có nơi nào phát hiện được chiếc vạc đồng tương tự như vạc đồng thời Nguyễn tại Huế và vạc đồng Cẩm Thủy thời Lê Trung Hưng ở Thanh Hóa.
Về lịch sử, chiếc vạc đồng Cẩm Thủy là hiện vật quý được Ban chỉ huy quân sự TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa phát hiện vào năm 1981 trong quá trình đào đắp một công trình tại khu vực ngã ba Đình Hương (phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa). Chiếc vạc khổng lồ này không rõ niên đại và còn khá nguyên vẹn. Sau đó được đưa về bảo quản tại trụ sở cơ quan này. Hơn 20 năm sau, đến tháng 8/2002 nó mới được bàn giao lại cho Bảo tàng Thanh Hóa quản lý.
Vạc đồng Cẩm Thủy hiện được cho là chiếc vạc đồng lớn nhất Việt Nam
Vạc đồng Cẩm Thủy hiện được cho là chiếc vạc đồng lớn nhất Việt Nam
Vạc Đồng còn nguyên vẹn, có kích thước tương đối lớn, cao 79,8 cm, đường kính miệng 134,4 cm, đường kính đáy 115 cm. Vạc dáng hình trụ có miệng hơi loe, thành miệng vát, đáy lồi. Miệng vạc có gắn 6 quai cầm to hình chữ U trang trí kiểu vặn thừng cách đều nhau. Bên trong thành miệng tạo gờ, giữa tai quai trang trí hoa văn các chấm tròn nổi tạo thành bông hoa 5 cánh (nhụy hoa là một chấm tròn to, cánh hoa là 5 chấm tròn nhỏ).
Phía ngoài sát dưới thành miệng trang trí một băng hoa văn hình hoa chanh xen kẽ vân mây và được giới hạn bởi hai đường gờ nổi chạy quanh. Ngăn cách phần thân với miệng và đáy vạc là đường gờ nổi đậm hình sống trâu, hai bên có hai đường gờ nổi nhỏ chạy quanh, thân vạc trang trí các đường gờ nổi tạo thành kiểu bổ ô dọc quanh thân vạc (gồm 6 ô). Sát đáy vạc có một đường gờ nổi chạy quanh, một bên sát đường gờ (đối diện phần quai xuống đáy) có hình một lỗ lõm tròn.
Đặc biệt, bên trong miệng vạc có khắc 2 dòng chữ Hán đối xứng nhau, mỗi dòng gồm 11 chữ, nét chữ nổi đậm, rõ ràng. Những chữ này đã được Bảo tàng Thanh Hóa phiên âm dịch nghĩa với nội dung: “Chính thống lĩnh Tạo Quận công quan khâm sai huyện Cẩm Thủy. Đúc ngày 28 tháng 11 năm Nhâm Thân”.
Từ căn cứ này, các nhà nghiên cứu đã xác định đây là chiếc vạc lớn do Tạo Quận công, tức quan khâm sai huyện Cẩm Thủy Phạm Ngô Cầu sai đúc ngày 28/11 (âm lịch) năm 1752, thế kỷ 18, thời Lê Trung Hưng.
Mặc dù, có giá trị là vậy, thế nhưng, do chiếc vạc quá to lớn và kinh phí hạn hẹp mà hiện nay Bảo tàng Thanh Hóa không biết đặt chiếc vạc ở đâu để trưng bày cho du khách tham quan. Hiện vạc đồng đang được phủ túi bóng, kê gạch để ở hàng lang của bảo tàng.
Bà Bùi Thị Luận, Trưởng phòng kiểm kê bảo quản – Bảo tàng Thanh Hóa cho biết: “Do kích cỡ quá lớn nên bảo tàng chưa đem cân vạc lần nào, chỉ ước chừng hơn một tấn. Vì vậy, bảo tàng không thể đưa qua các cửa vào các phòng mà phải để ngoài hành lang”.
Cũng theo bà Luận thì phía bảo tàng cũng đã đề nghị và mong muốn UBND tỉnh quan tâm xây dựng cho một nơi đặt vạc đồng để trưng bày nhằm phát huy giá trị của hiện vật quý này.

0

Văn công tỉnh lẻ - buồn tẻ phận đời

Posted by Phong Thủy Chung Cư on 23:03

Đoàn Văn công Tây Ninh không biểu diễn ở một nhà hát cố định. Họ chủ yếu lưu diễn ở các xã, huyện vùng sâu vùng xa, thực hiện những suất diễn phục vụ bà con nghèo. Đời nghệ sĩ phong trần, sương gió lang bạt, nhiều cái khổ, thế mà cũng có những điều thú vị.

Đêm xuống. Đèn lên. Ở một công viên giải trí miền quê đã đóng cửa, người ta bắt đầu dỡ gỗ, sắt từ một chiếc xe tải xuống rồi bắt đầu sắp xếp, nâng, trải, buộc dây… Dàn âm thanh được bày ra, chỉnh sửa. Ghế được xếp thành hàng thẳng tắp trên bãi cỏ. Và đằng sau hậu trường, những chiếc balace được mở ra, phấn son được bày biện. Những con người mới, cuộc đời mới sắp sửa thành hình. Rồi sau đó, một đêm diễn bắt đầu.Ai về Tây Ninh, chắc hẳn cũng nghe chút tiếng tăm của đoàn văn công tỉnh nơi đây.
Chính mình ban ngày, hóa thân về đêm
Một tháng sống với đoàn, tôi được trải nghiệm không ít chuyện về cuộc sống của một người nghệ sĩ. Đoàn cải lương được cấp một khu nhà tập thể ở phía sau Bảo tàng tỉnh Tây Ninh trên đường 30 tháng 4 ở thị xã. Đó là khu nhà cấp 4, diện tích chỉ khoảng 25m2/căn cho một gia đình. Khu vườn xung quanh rất rộng, người ta có thể phát quang cây cỏ, thay vào đó họ trồng sắn, đu đủ, ớt, mận, cây kiểng và nuôi gà, nuôi chó mèo làm bầu bạn, giữ nhà. Cuộc sống nghèo, bình dị là thế.

NSƯT Anh Thư và nghệ sĩ Đông Dương  trong vở Chuyện tình bên xóm Miễu. Ảnh: SONG ANH
NSƯT Anh Thư và nghệ sĩ Đông Dương  trong vở Chuyện tình bên xóm Miễu. Ảnh: SONG ANH
“Nắng Tây Ninh, nắng cháy da người. Em gái thị thành tình duyên thắm, không ngại đường xa đến thăm anh” – câu hát trong bài ca cổ “Thao trường em đến thăm anh” của soạn giả Thành Phương như đã khái quát lên được khí hậu khắc nghiệt của vùng ven biên giới này. Nhất là vào mùa hè, cái nắng gắt gao nhất trong năm, kèm với những cơn mưa rào ngẫu hứng và râm ran dàn hợp xướng ve sầu, bù tọt… chính là nét đặc trưng của nơi đây. Sẽ chẳng ai có thể nhận ra được những người nghệ sĩ trong vở tuồng tối qua khi thấy họ sinh hoạt vào buổi sáng. Cuộc sống rất đỗi bình thường- đi chợ, nấu cơm, chơi với con cái, trồng cây, đào sắn… Đời nghệ sĩ chỉ nhộn nhịp khi màn đêm kéo xuống, xe đoàn lăn bánh đến các điểm diễn và sân khấu lên đèn. “Diễn mùa mưa rất cực. Đi diễn mà cứ cầu cho trời đừng mưa vì đất sình lầy lội lắm. Xe đoàn di chuyển mà cứ thấp tha thấp thỏm. Làm tuồng (hóa trang) mất 2 tiếng đồng hồ mà làm xong mưa tự nhiên ào xuống là phải tẩy đi hết. Dù chỉ là diễn phục vụ, nhưng vì mưa mà không làm được thì buồn lắm” – nghệ sĩ Lê Thanh, kép chánh đoàn Tây Ninh kể lại.

Dàn nhạc của Đoàn văn công Tây Ninh.  Ảnh: S.A
Dàn nhạc của Đoàn văn công Tây Ninh.  Ảnh: S.A
Có một lần đoàn đi diễn ở xã Thạnh Tây (huyện Tân Biên), một xã nghèo cách 45 phút đi xe. Đó là một khu vui chơi thiếu nhi cũ kỹ. Không gian sân khấu, không gian hóa trang và cả chỗ cho khán giả xem vở rất chật hẹp. Các nghệ sĩ phải rất cẩn thận khi di chuyển để không bị lọt vào những cái hố lõm xuống ẩn sau bụi cỏ cao. Lúc nào họ cũng phải tự chuẩn bị dầu gió, hoặc kem chống muỗi. Hôm đó đoàn diễn vở “Chuyện tình bên xóm Miễu”. “Vở này tình tiết khá rời rạc và dễ dãi, hay pha vào các tình tiết tấu hài và tạp kỹ nhưng khán giả lại thích. Suất diễn nào cũng đông nghẹt” – NSƯT, đào chánh Anh Thư kể lại.
Các suất diễn không sắp xếp ghế cho khán giả ngồi, họ phải tự chuẩn bị ghế, hoặc ngồi chồm hổm, hoặc lót báo, lót dép ngồi xem. Loa xe của đoàn sẽ đi vòng vòng quanh xóm quảng cáo vở mới. Khoảng 17 giờ các diễn viên được đưa đến điểm diễn và bắt đầu làm tuồng, thay trang phục. 18 giờ, những đứa con nít bắt đầu tụ tập phía trước sân khấu, có những đứa tò mò len lén vào sau hội trường xem nghệ sĩ. Chúng say sưa ngắm nhìn, chúng bàn luận, đoán già đoán non nghệ sĩ này vào vai gì, nghệ sĩ kia vai gì...
Khán giả đến càng lúc càng đông, họ bế con đứng xem hát, họ ngồi phệt xuống nền đất. Khán giả đặc nghẹt sân cỏ. “Không đâu, vầy là còn ít đó. Chứ có mấy bữa diễn ở sân đình, sân ủy ban là khỏi có chỗ nhúc nhích luôn” – nhạc sĩ Thành Trí, trưởng dàn cổ nhạc của đoàn, vừa chỉnh đàn phía trước sân khấu vừa nói. Khán giả ủng hộ nhiệt tình lắm. Những khúc pha trò thì họ cười ầm lên, còn những khúc bi ai thì họ bàn tán rôm rả.
Ngẫu hứng thời trẻ, lo âu tuổi già
Một suất diễn thường diễn ra từ 19 giờ đến 21 giờ. Sau đó cả đoàn được bà con xã, huyện đãi cháo và gỏi gà lót dạ. Của ít lòng nhiều, ly rượu đế uống vào lòng càng ấm áp.

Bà con xã Thạnh Tây (huyện Tân Biên) đi xem rất đông.  Ảnh: S.A
Bà con xã Thạnh Tây (huyện Tân Biên) đi xem rất đông.  Ảnh: S.A
Nói về cải lương hiện nay, Đoàn Tây Ninh là một trong số ít đoàn còn phục vụ vở diễn với hình thức gần gũi với ngày xưa – thời kỳ hoàng kim của cải lương. Những đoàn khác như Đồng Nai, các nhà hát TP.HCM thường chỉ phục vụ hoặc bán vé những đêm diễn tổng hợp- hát, múa, ca nhạc, trích đoạn. Còn Đoàn Tây Ninh, đêm diễn tổng hợp như vậy thường chỉ diễn ra vào ngày tết, khi họ phải phục vụ ở các điểm du lịch như Núi Bà. “Ngày xưa còn cộng tác với các đoàn tỉnh khác, có nhiều cái bất hợp lý lắm. Chương trình tổng hợp nhiều khi như nồi lẩu thập cẩm, thù lao lại không thỏa đáng. Hồi những năm 2000, một đêm diễn diễn viên chỉ được nhận 30.000 đồng, còn các ca sĩ, có khi chỉ là nghiệp dư, lên sân khấu hát vài ba bài là được cả trăm nghìn rồi. Khán giả lại thưa thớt. Mình không thể trang trải cuộc sống đã đành, còn không được diễn thỏa cái nghề của mình nữa” – nghệ sĩ Lê Thanh chia sẻ.
Những người nghệ sĩ ở đoàn tỉnh, như một lẽ thường tình, tiếng vang, độ nổi tiếng của họ khó được lan rộng rãi trên các kênh truyền thông đại chúng như các nghệ sĩ ở thành phố lớn. Thỉnh thoảng họ chỉ có thể xuất hiện trên Đài truyền hình tỉnh Tây Ninh để thu vài ba bài ca cổ. Dịp lớn để các nghệ sĩ giao lưu, góp nhặt huy chương tranh danh hiệu, mở cơ hội tiến thân với nghề chỉ có các cuộc thi lớn. Hiện nay, nổi lên nhất là cuộc thi “Chuông vàng vọng cổ” – nơi học hỏi, phát triển tài năng của cả giới nghiệp dư lẫn chuyên nghiệp. Các nghệ sĩ trẻ từ các đoàn tỉnh cũng tham gia, nếu họ tiến sâu vào các vòng trong, sẽ có nhiều cơ hội được công chúng biết đến hơn. Theo quy định xét nghệ sĩ ưu tú, nghệ sĩ phải có ít nhất 1 Huy chương Vàng, 2 Huy chương Bạc của hội diễn này và 15 năm gắn bó với nghiệp diễn mới có điều kiện xét ưu tú. Vì thế mà mỗi mùa hội diễn đến, các vấn đề nhân sự, vở diễn, tài chính… càng nảy sinh. “Đoàn Tây Ninh là đoàn nghèo, chi phí đầu tư có hạn nên vở diễn sẽ không được hoành tráng như những đoàn bạn khác. Tuy nhiên nghệ sĩ vẫn có rất nhiều cơ hội nhận huy chương nếu thật sự khả năng của họ được công nhận” – Trưởng đoàn, Nghệ sĩ Ưu tú Kim Thoại cho biết.
Trở lại với NSƯT Anh Thư, chị cho biết: “Tôi cũng 40 tuổi rồi, cũng đến lúc phải nhường vị trí đào chánh, đào đẹp cho các diễn viên trẻ hơn. Nhà ở hiện tại là do đoàn cấp cho, nhưng chỉ trong thời gian làm nghề thôi, sau này đến lúc nghỉ hưu, con cái lớn lên thì chưa biết sẽ như thế nào. Ước mơ của tôi bây giờ là mua được miếng đất, cất được cái nhà nhỏ cho hai vợ chồng khi về già”.
Tôi biết, những nghệ sĩ nơi đây tuy nghèo, đời sống vật chất thiếu thốn, nhưng họ bình dị và hạnh phúc được theo nghiệp tổ.

Nói về cải lương hiện nay, đoàn Tây Ninh là một trong số ít đoàn còn phục vụ vở diễn với hình thức gần gũi với ngày xưa – thời kỳ hoàng kim của cải lương. Những đoàn khác như Đồng Nai, các nhà hát TP.HCM thường chỉ phục vụ hoặc bán vé những đêm diễn tổng hợp: hát, múa, ca nhạc, trích đoạn.

Copyright © 2009 Văn Hoá - Sân Khấu Dân Gian All rights reserved. Theme by Laptop Geek. | Bloggerized by FalconHive.