0

Ngôi đình làng bằng đá ở cố đô Hoa Lư

Đình được xây dựng bằng đá xanh nguyên khối, mỗi bộ phận được đục đẽo tinh xảo bằng đôi tay tài hoa của những nghệ nhân là con em trong làng. Ngôi đình bằng đá độc đáo này không chỉ là nơi tổ chức các lễ lớn trong làng mà còn là nơi làm giỗ cụ tổ làng nghề đá.


Làng Xuân Vũ, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có từ năm 1730 thời vua Lê Cảnh Hưng. Đình làng Xuân Vũ cũng được xây dựng từ đó, nhưng trước kia vật liệu làm đình chủ yếu là gỗ lim, xây bằng vôi vữa và gạch nung.
Làng Xuân Vũ, xã Ninh Vân, huyện Hoa Lư (Ninh Bình) có từ năm 1730 thời vua Lê Cảnh Hưng. Đình làng Xuân Vũ cũng được xây dựng từ đó, nhưng trước kia vật liệu làm đình chủ yếu là gỗ lim, xây bằng vôi vữa và gạch nung.
Do thời tiết và chiến tranh tàn phá, ngôi đình làng cũ bị hư hỏng phải tháo dỡ hoàn toàn. Một thời gian dài, làng Xuân Vũ không có đình, nơi ngôi đình ngự trị trước kia chỉ còn lại vết tích. Trước những nhu cầu thiết yếu, người dân trong làng đã quyết định phục dựng, xây dựng lại một ngôi đình mới bằng đá, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc của ngôi đình xưa cũ.
Do thời tiết và chiến tranh tàn phá, ngôi đình làng cũ bị hư hỏng phải tháo dỡ hoàn toàn. Một thời gian dài, làng Xuân Vũ không có đình, nơi ngôi đình ngự trị trước kia chỉ còn lại vết tích. Trước những nhu cầu thiết yếu, người dân trong làng đã quyết định phục dựng, xây dựng lại một ngôi đình mới bằng đá, vẫn giữ nguyên nét kiến trúc của ngôi đình xưa cũ.

Đình phục dựng lại vẫn có Tiền đường, Hậu cung và 2 bên tả hữu thờ gia tiên. Tất cả các chi tiết chính xây đình đều bằng đá xanh nguyên khối, do chính các nghệ nhân là con em trong làng chế tác và tự nguyện đóng góp xây dựng.
Đình phục dựng lại vẫn có Tiền đường, Hậu cung và 2 bên tả hữu thờ gia tiên. Tất cả các chi tiết chính xây đình đều bằng đá xanh nguyên khối, do chính các nghệ nhân là con em trong làng chế tác và tự nguyện đóng góp xây dựng.

Tiền đường của đình gồm có 3 gian. Bên trong có 12 cột cái và 12 cột quân bằng đá được trạm khắc tinh xảo, kết nối với nhau rất chắc chắn và vững trãi. Các cột cái được trạm khắc rồng, các cột con được trạm khắc cỏ cây hoa lá, chim muông, đặc biệt là 4 cây đại diện cho 4 mùa: Xuân hạ thu đông với Tùng, Trúc, Cúc, Mai.
Tiền đường của đình gồm có 3 gian. Bên trong có 12 cột cái và 12 cột quân bằng đá được trạm khắc tinh xảo, kết nối với nhau rất chắc chắn và vững trãi. Các cột cái được trạm khắc rồng, các cột con được trạm khắc cỏ cây hoa lá, chim muông, đặc biệt là 4 cây đại diện cho 4 mùa: Xuân hạ thu đông với Tùng, Trúc, Cúc, Mai.
Nhiều cột đá tại Tiền đường được dựng lên trên những chân cột của ngôi đình cũ. Ông Phạm Ngọc Sỹ (70 tuổi) thủ từ trông coi ngôi đình cho hay, khi đình cũ phải phá bỏ đi, nhiều chân cột vẫn được giữ lại, trước kia trên những chân cột này là cột gỗ lim.
Nhiều cột đá tại Tiền đường được dựng lên trên những chân cột của ngôi đình cũ. Ông Phạm Ngọc Sỹ (70 tuổi) thủ từ trông coi ngôi đình cho hay, khi đình cũ phải phá bỏ đi, nhiều chân cột vẫn được giữ lại, trước kia trên những chân cột này là cột gỗ lim.

Một cột con được khắc mây, hoa cúc tượng trưng cho mùa thu. Những cây cột này đều được người dân trong làng cúng tiến. Ngôi đình đá được dựng lên với mong muốn, tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như lưu giữ lại được làng nghề truyền thống hàng trăm năm nay của làng cho thế hệ mai sau.
Một cột con được khắc mây, hoa cúc tượng trưng cho mùa thu. Những cây cột này đều được người dân trong làng cúng tiến. Ngôi đình đá được dựng lên với mong muốn, tưởng nhớ các bậc tiền nhân cũng như lưu giữ lại được làng nghề truyền thống hàng trăm năm nay của làng cho thế hệ mai sau.
Mỗi cây cột đá trong Tiền đình cao hơn 4m, to bằng cả người ôm. Những cột đá này được làm bằng đá xanh nguyên khối, khai thác từ các dãy núi trong làng. Ông Sỹ cho biết thêm, để xây dựng xong ngôi đền hoàn chỉnh phải sử dụng hàng trăm khối đá.
Mỗi cây cột đá trong Tiền đình cao hơn 4m, to bằng cả người ôm. Những cột đá này được làm bằng đá xanh nguyên khối, khai thác từ các dãy núi trong làng. Ông Sỹ cho biết thêm, để xây dựng xong ngôi đền hoàn chỉnh phải sử dụng hàng trăm khối đá.

Các cột, kèo, vì được gắn kết với nhau bằng các mộng. Ngôi đình không chỉ là nơi tổ chức các lễ hội lớn trong làng như: Kỳ Phú (12/2 âm lịch), giỗ Khổng Tử và Trần Hưng Đạo (20/8), Tống cựu nghinh tân (30/12 âm lịch) còn là nơi tổ chức lễ giỗ cụ tổ làng nghề đá Hoàng Sùng, đây là lễ lớn nhất trong năm diễn ra vào ngày 16/8 âm lịch hàng năm.
Các cột, kèo, vì được gắn kết với nhau bằng các mộng. Ngôi đình không chỉ là nơi tổ chức các lễ hội lớn trong làng như: Kỳ Phú (12/2 âm lịch), giỗ Khổng Tử và Trần Hưng Đạo (20/8), Tống cựu nghinh tân (30/12 âm lịch) còn là nơi tổ chức lễ giỗ cụ tổ làng nghề đá Hoàng Sùng, đây là lễ lớn nhất trong năm diễn ra vào ngày 16/8 âm lịch hàng năm.

Tại mỗi vì các mối nối ghép với nhau bằng các mộng được che phủ bởi những họa tiết rồng bay - phượng múa, long ly quy phượng hay tùng trúc cúc mai...
Tại mỗi "vì" các mối nối ghép với nhau bằng các "mộng" được che phủ bởi những họa tiết "rồng bay - phượng múa", "long ly quy phượng" hay "tùng trúc cúc mai"...

Ông Sỹ cho biết, tại Hậu cung của ngôi đình hiện vẫn còn 4 cột đá cổ có từ hàng trăm năm trước. Những cột đá này được chạm khắc tinh xảo, được làm bằng phương pháp thủ công nhưng những nét trạm rất nổi, vân rất sâu dù cho thời gian mưa nắng cũng không bào mòn được. Đây cũng chính là những di sản mà người xưa để lại cho con cháu làng đá mỹ nghệ Ninh Vân.
Ông Sỹ cho biết, tại Hậu cung của ngôi đình hiện vẫn còn 4 cột đá cổ có từ hàng trăm năm trước. Những cột đá này được chạm khắc tinh xảo, được làm bằng phương pháp thủ công nhưng những nét trạm rất nổi, vân rất sâu dù cho thời gian mưa nắng cũng không bào mòn được. Đây cũng chính là những di sản mà người xưa để lại cho con cháu làng đá mỹ nghệ Ninh Vân.
Một họa tiết đầu rồng trên cột đá trong Tiền đường. Để xây dựng ngôi đình đá này, tổng số tiền phải mất nhiều tỷ đồng, chưa kể công sức của người dân trong làng bỏ ra.
Một họa tiết đầu rồng trên cột đá trong Tiền đường. Để xây dựng ngôi đình đá này, tổng số tiền phải mất nhiều tỷ đồng, chưa kể công sức của người dân trong làng bỏ ra.
Một góc trong ngôi đình đá độc đáo bậc nhất cố đô Hoa Lư (Ninh Bình).
Một góc trong ngôi đình đá độc đáo bậc nhất cố đô Hoa Lư (Ninh Bình).
Bức tường của ngôi đình được xây bằng đá. Từ nhiều năm nay, đình được Ban quản lý bảo tồn di tích lịch sử trong làng bảo quản. Ngày thường đình đóng cửa, đến ngày hội lại được mở, tổ chức các lễ hội truyền thống trong làng thu hút nhiều người đến tham dự.
Bức tường của ngôi đình được xây bằng đá. Từ nhiều năm nay, đình được Ban quản lý bảo tồn di tích lịch sử trong làng bảo quản. Ngày thường đình đóng cửa, đến ngày hội lại được mở, tổ chức các lễ hội truyền thống trong làng thu hút nhiều người đến tham dự.

Các hoành phi câu đối trên cột, trong đình cũng được khắc bằng đá tạo nên sự trường tồn vĩnh cửu với thời gian.
Các hoành phi câu đối trên cột, trong đình cũng được khắc bằng đá tạo nên sự trường tồn vĩnh cửu với thời gian.
Trước ngôi đền đá độc đáo làng Xuân Vũ có cây thị hàng trăm năm tuổi. Không gian quanh đình vẫn còn lưu giữ nhiều nét cổ kính của làng quê Bắc Bộ cây đa giếng nước sân đình.
Trước ngôi đền đá độc đáo làng Xuân Vũ có cây thị hàng trăm năm tuổi. Không gian quanh đình vẫn còn lưu giữ nhiều nét cổ kính của làng quê Bắc Bộ "cây đa giếng nước sân đình".

Không chỉ nổi tiếng với đình làng bằng đá, làng đá Ninh Vân (trong đó có làng Xuân Vũ) hiện đang được nhiều người biết đến với cổng làng to nhất tỉnh, được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối.
Không chỉ nổi tiếng với đình làng bằng đá, làng đá Ninh Vân (trong đó có làng Xuân Vũ) hiện đang được nhiều người biết đến với cổng làng to nhất tỉnh, được xây dựng hoàn toàn bằng đá xanh nguyên khối.

0

“Dưới cát là nước”: Sức hấp dẫn từ sáng tạo thử nghiệm

Posted by Phong Thủy Chung Cư on 19:55 in , , ,

Từ ngày 27-29/8, Nhà hát kịch nói Quân đội đã chính thức công diễn vở “Dưới cát là nước”.

Từ ngày 27-29/8, Nhà hát kịch nói Quân đội đã chính thức công diễn vở “Dưới cát là nước” (Kịch bản: Nhà văn Nguyễn Quang Vinh; Đạo diễn: NSND Lê Hùng). Đây là một trong những vở diễn đăng kí tham gia Liên hoan Quốc tế sân khấu thử nghiệm lần thứ III - 2016.
Theo Cố vấn văn học kịch, PGS- TS Nguyễn Thị Minh Thái: “Với 3 tiêu chí của một tác phẩm sân khấu thử nghiệm, ở 3 phương diện: Thử nghiệm về kịch bản, thử nghiệm về biểu diễn, thử nghiệm về đạo diễn. Vở diễn này về cơ bản đã đạt được tính chất của thử nghiệm”.
Một kịch bản đặc biệt, nhiều yếu tố thử nghiệm
Tác giả kịch bản - Nhà văn Nguyễn Quang Vinh tâm sự : «Tôi là người Quảng Bình, hiểu quá rõ mảnh đất và con người nơi đây. Quảng Bình là nơi gánh chịu sự khốc liệt, mất mát nhất của chiến tranh. Nhưng người Quảng Bình cũng là những người có lòng vị tha, tình người.”
Đó chính là ý tưởng khởi nguồn của kịch bản “Dưới cát là nước”. Ông Lủi, bà Nậy và cô Gió quăng quật trong cát, trên cát, giữa cát 30 năm... 30 năm thù hằn, tìm nhau, kiếm nhau, đuổi nhau... Cuối cùng thì bới cát nóng tìm nước, chôn thù hằn tìm lấy tình yêu thương. Bà mẹ yêu đứa con. Đứa con vì cuộc sống đang tiếp diễn của mình yêu người đàn ông.
Người đàn ông quay về vì tình yêu với mảnh đất. Tình thương yêu đã hóa giải hận thù suốt 30 năm tìm nhau, đuổi nhau trên cát nóng. Chỉ từ 3 nhân vật, sân khấu ngập tràn người, có cả hồn cát, có cả dàn nhạc dân tộc, hư hư thực thực rất hiệu quả, gây được những ấn tượng đặc biệt với khán giả.
Sau buổi tổng duyệt, Nhà văn Nguyễn Quang Vinh hân hoan chia sẻ: “Lần thứ 3 tôi đã thành công những dòng viết kịch bản về cát trong ý định thực hiện 10 vở diễn về Cát”.
Nhà phê bình sân khấu Nguyễn Thị Minh Thái nhận xét: “Nguyễn Quang Vinh đã đi từ vở diễn “Âm binh, đến Cát trắng như gạo và bây giờ là Dưới cát là nước là những bước đi ấn tượng, những kịch bản đạt chất lượng cao, để cùng ê kip cho ra 3 tác phầm về cát quá hay cho sân khấu nước nhà”.
Theo Giám đốc - Đại tá - NSƯT Nguyễn Ngọc Thư: "Khi đọc kịch bản, chúng tôi đã thấy ngay yếu tố thử nghiệm trong tác phẩm. Sau đó, Nhà hát đã tiến hành chỉnh sửa kịch bản để phù hợp hơn. Đây là một kịch bản đặc biệt cần tập hợp nhiều thành phần sáng tạo".
Trong kịch bản, chất tự sự, trữ tình không nằm trong xung đột mà nằm trong lời thoại, diễn biến tâm lý. Điều này tạo cảm hứng dàn dựng cho đạo diễn và êkip sáng tạo.
Hấp dẫn từ những thử nghiệm sáng tạo
Sân khấu được bố trí cách điệu với những triền cát miên man trắng xóa, với những hồn cát chở che, ấp iu, đồng điệu với mỗi nhân vật, mỗi con người trong mỗi cảnh huống. Và âm nhạc vút lên ở ba tầng sân khấu, như là lòng cát, như là cây lá, như là nắng gió, biển trời... cùng hòa khúc yêu thương với mỗi nhân vật- đầy day dứt, ám ảnh, dằng xé.
Nhạc sĩ - NSƯT Huỳnh Tú đã tính toán kỹ lưỡng từng chi tiết nhạc: khi là điệu hò Quảng Bình da diết, khi là lời ru “Lông chông”- ca khúc vở diễn, khi là dàn nhạc sống như dỗ dành, như an ủi cho mỗi phận đời trong cát. Âm nhạc đã thực sự sống cùng vở diễn, diễn tả được những khoảng lặng về cảm xúc. Sự kết hợp giữa âm nhạc truyền thống với sân khấu kịch rất hiệu quả, bổ trợ cho cảm xúc của diễn viên, bật lên chủ đề tư tưởng của tác phẩm.
Về mặt dàn dựng, đạo diễn- NSND Lê Hùng đã thành công khi kết hợp giữa thủ pháp Sân khấu truyền thống (dàn đế chèo), sân khấu gián cách Becton Brếch, và sân khấu Staninapxki. Mỗi nhân vật tự sự với chính mình, tự sự với cát, với lông chông, tương tác với dàn nhạc, với người hát, và đối thoại với nhau.
Mỗi diễn viên là một màu sắc riêng, một lối diễn riêng “lên” đúng màu, đúng chất từng nhân vật. Sự ngơ ngác, hồn nhiên đến hoang dại như một bản năng sống mãnh liệt của Gió được diễn viên trẻ Băng Tình thể hiện ngọt vai. Sự từng trải và ám ảnh, run rẩy, đầy sám hối của Lủi trong nét diễn tưng tửng mà tự nhiên của diễn viên Hồ Uy Linh.
Đặc biệt, nữ diễn viên chính, NSƯT Ngọc Thư trọn vẹn hóa thân vào vai bà Nậy. Là người giàu kinh nghiệm sân khấu, chị đã đẩy được cảm xúc, tạo ra những khoảnh khắc diễn xuất thần. Khán giả như bị “bà Nậy” thôi miên, chìm sâu trong điên dại, khi sống lại cảm giác đau đớn trước cái chết oan của người chồng.
Rồi cũng chính chị đánh thức khán giả, làm khán giả tỉnh lại khi tự nhủ với con gái “Mẹ điên mất!”. Bản lĩnh sân khấu đã giúp chị biến tấu linh hoạt lối diễn Staninapxki và lối diễn Becton Brếch khi thể hiện hình tượng người đàn bà Việt Nam với nội tâm giằng xé mà tỉnh táo, giúp chị tách mình ra khỏi những ám ảnh của nhân vật, trở về đời thật, thay đổi tiết tấu kịch…
Sân khấu lặng đi và ngân lên giai điệu yêu thương khi kết vở, bà Nậy ôm chầm lấy con gái và con rể, người đã từng là kẻ thù của gia đình bà. Hòa cảm với bà Nậy, những hồn cát trút bỏ mặt nạ, như dòng nước mát lành vẫn âm thầm chảy dưới sâu trong lòng cát. Đó là tình mẹ con yêu thương vời vợi, là tình người thăm thẳm bao dung. Như tình đất, tình người Quảng Bình, như tình đất, tình người Việt Nam!...
Với một sân khấu đẹp và xúc cảm, với những thử nghiệm mới mẻ sáng tạo, vở diễn “Dưới cát là nước” hứa hẹn sẽ ghi được những dấu ấn riêng của Nhà hát Kịch nói Quân đội với bạn nghề, với khán giả trong và ngoài quân đội, và nhất là trong Liên hoan Quốc tế sân khấu thử nghiệm lần thứ III - 2016 tại Hà Nội.

Copyright © 2009 Văn Hoá - Sân Khấu Dân Gian All rights reserved. Theme by Laptop Geek. | Bloggerized by FalconHive.